Nghị định 154/2025/NĐ-CP cho người thuộc diện tinh giản biên chế nghỉ hưu sớm hơn tuổi tại Phụ lục I hoặc Phụ lục II Nghị định 135/2020/NĐ-CP tối đa 5 năm mà không bị trừ tỷ lệ lương hưu. Nghị định có hiệu lực từ ngày 16/6/2025, thay thế Nghị định 29/2023/NĐ-CP, và các chế độ được áp dụng đến hết ngày 31/12/2030.
Cập nhật ngày .
Nghị định không viết lại lộ trình tuổi nghỉ hưu. Tuổi trong điều kiện bình thường vẫn là Phụ lục I Nghị định 135/2020/NĐ-CP, tính bằng bộ tra cứu của trang này. Nghị định 154 chỉ mở thêm cách nghỉ sớm hơn mốc đó cho người được giải quyết tinh giản biên chế. Toàn văn nằm trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Đối tượng tinh giản biên chế
Điều 1 giới hạn phạm vi ở cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội, từ trung ương đến cấp xã. Người lao động doanh nghiệp ngoài diện này không lấy nghị định để xin nghỉ hưu trước tuổi.
Điều 2 gồm các nhóm sau, khi rơi vào tình huống được liệt kê:
Cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ và công chức cấp xã, cùng người làm việc theo hợp đồng lao động được áp dụng chế độ như công chức. Tình huống gồm dôi dư do sắp xếp tổ chức, thôi giữ chức vụ lãnh đạo và tự nguyện, dôi dư do cơ cấu vị trí việc làm, chưa đạt trình độ chuyên môn mà không bố trí được việc khác, xếp loại chất lượng không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc nghỉ ốm dài ngày theo mức nghị định nêu.
Người hợp đồng lao động không xác định thời hạn, làm chuyên môn hoặc làm công việc hỗ trợ, phục vụ, nếu dôi dư do sắp xếp tổ chức hoặc cơ cấu lại nhân lực.
Điều 17 kéo nghị định sang một số nhóm khác: người làm việc trong chỉ tiêu biên chế và hưởng lương từ ngân sách tại hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ khi doanh nghiệp bị sắp xếp; cán bộ, công chức, viên chức được cử làm đại diện vốn hoặc sang quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách mà dôi dư.
Một số điểm của Điều 2 loại người đã hưởng chính sách, chế độ sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quy định riêng của Chính phủ. Đó là chỗ Nghị định 154 tránh chồng lên Nghị định 178/2024/NĐ-CP và Nghị định 67/2025/NĐ-CP.
Không giải quyết tinh giản trong các trường hợp Điều 4 nêu:
Đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ khi cá nhân tự nguyện.
Đang trong thời gian xem xét kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc bị thanh tra, kiểm tra vì có dấu hiệu vi phạm.
Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố nghỉ theo Điều 9 hoặc Điều 10 thì khoản 4 của hai điều đó ghi rõ không được hưởng chính sách Điều 6. Họ không dùng mục nghỉ hưu trước tuổi ở trang này.
Điều kiện nghỉ hưu trước tuổi
Điều 6 lấy tuổi tại Phụ lục I hoặc Phụ lục II Nghị định 135/2020/NĐ-CP làm mốc, rồi xét còn bao nhiêu năm nữa thì đến mốc đó. Cả bốn khoản đều yêu cầu đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo luật bảo hiểm xã hội đang áp dụng lúc nghỉ. Từ ngày 01/7/2025, Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 lấy mốc đủ 15 năm đóng với người đủ tuổi hoặc thuộc diện nghề nặng nhọc, vùng khó khăn. Bảng trợ cấp của Điều 6 cũng tách nhóm từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm và nhóm từ đủ 20 năm. Trang này không kết luận một hồ sơ đã đủ năm đóng.
Còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm
Khoản 2: so với tuổi Phụ lục I, tức tuổi trong điều kiện lao động bình thường. Không yêu cầu thêm 15 năm nghề nặng nhọc.
Khoản 1: so với tuổi Phụ lục II, và phải có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, kể cả thời gian làm ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021.
Còn dưới 2 năm
Khoản 4: so với tuổi Phụ lục I, đủ thời gian đóng để hưởng lương hưu.
Khoản 3: so với tuổi Phụ lục II, kèm đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng đặc biệt khó khăn như khoản 1.
Còn hơn 5 năm so với tuổi ở phụ lục tương ứng thì không đủ điều kiện Điều 6. Người chưa đến tuổi nghỉ hưu và không đủ điều kiện về hưu trước tuổi, nếu thôi việc ngay, được xem chính sách thôi việc tại Điều 8. Trang này không tính các khoản trợ cấp thôi việc.
Khoản 3 Điều 5: thời điểm làm căn cứ đủ tuổi đời để hưởng chính sách nghỉ hưu trước tuổi là ngày 01 của tháng liền sau tháng sinh. Hồ sơ không có ngày, tháng sinh thì lấy ngày 01/01 của năm sinh. Tháng đủ tuổi trên bộ tra cứu vẫn theo Nghị định 135: hết ngày cuối tháng đủ tuổi thì nghỉ, lương hưu từ ngày đầu tháng liền sau. Cơ quan giải quyết hồ sơ mới chốt người đó đang ở khoản 1, 2, 3 hay 4.
Chế độ và trợ cấp
Ở khoảng còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm, khoản 1 và khoản 2 cho ba việc cùng lúc, ngoài lương hưu theo luật bảo hiểm xã hội:
Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.
Trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi, so với tuổi Phụ lục II nếu thuộc khoản 1, hoặc so với tuổi Phụ lục I nếu thuộc khoản 2.
Trợ cấp theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Từ đủ 20 năm thì 20 năm đầu được 5 tháng tiền lương hiện hưởng; từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm được 0,5 tháng. Từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm thì được 5 tháng tiền lương hiện hưởng.
Ở khoảng còn dưới 2 năm, khoản 3 và khoản 4 chỉ nói được hưởng lương hưu và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi. Hai khoản này không ghi trợ cấp 5 tháng cho mỗi năm nghỉ sớm, cũng không ghi trợ cấp theo số năm công tác.
Tiền lương hiện hưởng, theo khoản 1 Điều 5, là tiền lương tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế. Khoản này gồm mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp, hoặc mức lương thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc mức lương của người quản lý công ty; phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề; và hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu có. Người đang nghỉ không lương hoặc nghỉ hưởng chế độ ốm đau thì lấy lương tháng liền kề trước khi nghỉ, còn mức lương cơ sở lấy theo tháng liền kề trước khi tinh giản.
Số năm để tính trợ cấp không phải là mọi năm đã đóng bảo hiểm. Với đối tượng Điều 2, khoản 4 Điều 5 chỉ cộng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã và lực lượng vũ trang, mà chưa hưởng trợ cấp thôi việc, chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ. Với đối tượng Điều 17, cùng khoản tính tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa hưởng các khoản đó.
Số tháng lẻ của thời gian công tác được làm tròn theo khoản 7 Điều 5: từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm; trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn 1 năm. Khoản 8 Điều 5 cũng có cách làm tròn thời gian nghỉ sớm, nhưng chỉ khi tính trợ cấp ở Điều 9 và Điều 10, không ghi cho Điều 6. Vì vậy trang này không tự làm tròn số tháng lẻ của thời gian nghỉ hưu trước tuổi.
Chế độ không tự phát sinh khi đủ tuổi. Người đứng đầu cơ quan lập danh sách và dự toán, cấp có thẩm quyền phê duyệt rồi mới chi trả. Khoản 6 Điều 3: nếu trong 60 tháng kể từ ngày tinh giản mà được bầu cử, tuyển dụng lại vào cơ quan hưởng lương từ ngân sách, hoặc được bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, thì phải hoàn trả khoản trợ cấp đã nhận. Khoản 7 Điều 3: đủ điều kiện ở nhiều văn bản của Chính phủ thì chỉ được một chính sách cao nhất.
Ví dụ: nam sinh tháng 3/1968
Nam sinh tháng 3/1968, trong điều kiện lao động bình thường, đủ 62 tuổi vào tháng 3/2030. Hết ngày 31/3/2030 thì đến tuổi Phụ lục I; lương hưu tính từ ngày 1/4/2030. Số này do hàm tính tuổi của trang ra, cùng cách với trang nam sinh năm 1968. Đây chưa phải ngày được duyệt tinh giản.
Lùi đúng 60 tháng từ tháng đủ tuổi thì ra tháng 3/2025. Lùi đúng 24 tháng thì ra tháng 3/2028. Khoảng từ mốc 60 tháng đến mốc 24 tháng là chỗ khoản 2 Điều 6 nói tới khi còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm so với tuổi Phụ lục I. Tháng 6/2025, lúc nghị định có hiệu lực, nằm giữa hai mốc này. Sau mốc 24 tháng, cho đến tháng đủ tuổi, là khoảng còn dưới 2 năm của khoản 4. Điều 5 khoản 3 lấy ngày 01 của tháng liền sau tháng sinh làm căn cứ đủ tuổi đời, nên hai mốc này là mốc tham chiếu trên lịch Phụ lục I, không thay quyết định của cơ quan giải quyết.
Giả sử hồ sơ được ghi nhận còn đúng 5 năm so với tuổi Phụ lục I và có đúng 20 năm công tác đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Điều 5 khoản 4. Trợ cấp điểm b khoản 2 là 25 tháng tiền lương hiện hưởng: 5 tháng lương cho mỗi năm, nhân với 5 năm nghỉ sớm. Trợ cấp điểm c cho 20 năm đầu là 5 tháng tiền lương hiện hưởng. Hai khoản cộng lại là 30 tháng tiền lương hiện hưởng, chưa kể lương hưu hằng tháng và việc không bị trừ tỷ lệ. Ví dụ lấy đúng 5 năm và đúng 20 năm để không phải làm tròn số tháng lẻ. Tiền lương hiện hưởng không phải là mức lương hưu.
Nếu người này có đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng đặc biệt khó khăn, mốc đổi sang Phụ lục II: đủ 55 tuổi 9 tháng vào tháng 12/2023, hết ngày 31/12/2023. Khi đó khoản 1 và khoản 3 mới là điều khoản cần đọc, và số năm nghỉ sớm được so với tuổi Phụ lục II chứ không so với 62 tuổi.
Khác nghỉ sớm theo Điều 169 khoản 3
Khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 cho nghỉ ở tuổi thấp hơn, nhưng không quá 5 tuổi so với tuổi bình thường tại thời điểm nghỉ. Đó là nghỉ đúng một tuổi thấp hơn, không phải nghỉ thêm tới 5 năm trước tuổi thấp hơn ấy.
Bên trong khoản 3 có hai cách tính lương hưu khác nhau. Người đủ 15 năm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc vùng đặc biệt khó khăn thì nghỉ theo Phụ lục II. Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 coi đó là đủ điều kiện hưởng lương hưu khi đủ tuổi thấp hơn. Mức lương hưu tính theo Điều 66 khoản 1, và điều này không có đoạn giảm tỷ lệ vì nghỉ trước tuổi.
Người suy giảm khả năng lao động đi theo Điều 65: đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; từ 61% đến dưới 81% thì thấp hơn tối đa 5 tuổi, từ 81% thì thấp hơn tối đa 10 tuổi. Điều 66 khoản 3 tính mức như khoản 1 rồi giảm 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi. Dưới 6 tháng thì không giảm. Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng thì giảm 1%.
Nghị định 154 đứng ở chỗ khác. Người thuộc diện tinh giản có thể nghỉ trước cả tuổi Phụ lục I, hoặc trước cả tuổi Phụ lục II nếu đủ 15 năm nghề nặng nhọc hay vùng khó khăn, tối đa 5 năm, mà không bị trừ tỷ lệ lương hưu. Kèm theo là trợ cấp khi còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm. Người không thuộc nghị định này không được lấy các mốc đó làm lịch nghỉ của mình. Muốn xem tuổi thấp hơn theo luật, dùng mục nghỉ sớm trên trang trường hợp đặc biệt hoặc bộ tra cứu ở trang chủ.
Khác Nghị định 178 và Nghị định 67
Điều 18 Nghị định 154 chỉ thay thế Nghị định 29/2023/NĐ-CP ngày 03/6/2023. Nghị định không thay Nghị định 178/2024/NĐ-CP, cũng không thay Nghị định 67/2025/NĐ-CP sửa nghị định 178. Hai nghị định kia là chính sách khi sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Điều 6 của Nghị định 154 dừng ở mức còn tối đa 5 năm đến tuổi Phụ lục I hoặc Phụ lục II.
Nếu một người vừa thuộc diện tinh giản theo Nghị định 154 vừa thuộc chính sách sắp xếp bộ máy, khoản 7 Điều 3 chỉ cho hưởng một chính sách cao nhất. Một số điểm Điều 2 còn loại sẵn người đã hưởng chính sách sắp xếp theo quy định riêng của Chính phủ, nên không phải hồ sơ nào cũng được chọn. Phần tuổi và trợ cấp của Nghị định 178 được tóm ở trang trường hợp đặc biệt. Trang này không lập lại bảng tiền của nghị định đó.
Hiệu lực và hồ sơ đang làm theo Nghị định 29
Nghị định 154 có hiệu lực từ ngày 16/6/2025. Các chế độ, chính sách trong nghị định được áp dụng đến hết ngày 31/12/2030. Năm 2025 và năm 2026 đều nằm trong khoảng này, nếu người đó thuộc đối tượng và được cấp có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn.
Điều 19: đối tượng đang được xem xét, giải quyết theo Nghị định 29/2023/NĐ-CP, hoặc đã được giải quyết theo nghị định đó nhưng đến ngày 16/6/2025 vẫn chưa nhận chế độ, thì được tính lại và được cấp phần chênh lệch theo Nghị định 154.
Xem khoảng tuổi của bạn
Nhập tháng, năm sinh và giới tính để xem tháng đủ tuổi theo Phụ lục I, tháng bắt đầu hưởng lương hưu, và hai mốc lùi 60 tháng, 24 tháng. Phụ lục II chỉ hiện để đối chiếu khi đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng đặc biệt khó khăn. Kết quả không phải quyết định tinh giản biên chế.
Phụ lục I, điều kiện lao động bình thường
Tuổi nghỉ hưu
62 tuổi
Hết tháng đủ tuổi
31/3/2030
Lương hưu từ
1/4/2030
60 tháng trước tháng đủ tuổi
tháng 3/2025
24 tháng trước tháng đủ tuổi
tháng 3/2028
Khoản 2 Điều 6 nhằm vào khoảng còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm so với tuổi này. Khoản 4 nhằm vào khoảng còn dưới 2 năm. Hai mốc tháng trên chỉ lùi lịch từ tháng đủ tuổi, để hình dung khoảng đó.
Phụ lục II, chỉ khi đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng khó khăn
Tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi
55 tuổi 9 tháng
Hết tháng đủ tuổi Phụ lục II
31/12/2023
60 tháng trước tháng đó
tháng 12/2018
24 tháng trước tháng đó
tháng 12/2021
Khoản 1 và khoản 3 Điều 6 lấy tuổi Phụ lục II làm mốc, và chỉ khi có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm ở vùng đặc biệt khó khăn. Không đủ 15 năm thì không dùng hai mốc này.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 154 có cho nghỉ hưu trước tuổi không?
Có, với người thuộc diện tinh giản biên chế tại Điều 2 và đủ điều kiện Điều 6 Nghị định 154/2025/NĐ-CP. Người đó có thể hưởng lương hưu khi còn tối đa 5 năm nữa mới đến tuổi tại Phụ lục I Nghị định 135/2020/NĐ-CP, hoặc đến tuổi tại Phụ lục II nếu có đủ 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi. Nghị định có hiệu lực từ ngày 16/6/2025, thay thế Nghị định 29/2023/NĐ-CP, và được áp dụng đến hết ngày 31/12/2030. Đây không phải quyền của mọi người lao động.
Điều kiện nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 154 là gì?
Điều 6 chia bốn khoảng. Còn từ đủ 2 năm đến đủ 5 năm trước tuổi Phụ lục II, đồng thời đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng đặc biệt khó khăn: khoản 1. Cùng khoảng 2 năm đến 5 năm nhưng so với tuổi Phụ lục I, không cần 15 năm nghề nặng nhọc: khoản 2. Còn dưới 2 năm trước tuổi Phụ lục II, kèm đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng khó khăn: khoản 3. Còn dưới 2 năm trước tuổi Phụ lục I: khoản 4. Cả bốn khoản đều yêu cầu đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo luật bảo hiểm xã hội. Khoản 3 Điều 5 lấy ngày 01 của tháng liền sau tháng sinh làm căn cứ đủ tuổi đời; hồ sơ chỉ có năm sinh thì lấy ngày 01/01 của năm đó.
Nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 154 có bị trừ lương hưu không?
Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi. Khoản 1 và khoản 2 Điều 6 còn cho trợ cấp 5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ sớm hơn tuổi ở phụ lục tương ứng, cộng trợ cấp theo thời gian công tác. Từ đủ 20 năm thì 20 năm đầu được 5 tháng tiền lương hiện hưởng, từ năm thứ 21 mỗi năm thêm 0,5 tháng. Từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm thì được 5 tháng tiền lương hiện hưởng. Khoản 3 và khoản 4, khi còn dưới 2 năm, chỉ ghi lương hưu và không trừ tỷ lệ; nghị định không ghi thêm khoản 5 tháng cho mỗi năm nghỉ sớm. Cách nghỉ vì suy giảm khả năng lao động thì khác: Điều 66 khoản 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 giảm 2% cho mỗi năm nghỉ trước tuổi.
Trợ cấp tinh giản biên chế khi nghỉ sớm tính trên thời gian đóng nào?
Với đối tượng Điều 2, khoản 4 Điều 5 chỉ tính thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã và lực lượng vũ trang, mà chưa hưởng trợ cấp thôi việc, chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ. Thời gian đóng ở nơi khác không tự cộng vào khoản trợ cấp này. Với đối tượng Điều 17, cùng khoản tính tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa hưởng các khoản đó. Số tháng lẻ của thời gian công tác được làm tròn theo khoản 7 Điều 5: từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm; trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính là 1 năm.
Nghị định 154 khác nghỉ sớm theo Bộ luật Lao động Điều 169 khoản 3 ở điểm nào?
Khoản 3 Điều 169 cho nghỉ thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi bình thường, không phải nghỉ trước tuổi đó thêm 5 năm nữa. Người đủ 15 năm nghề nặng nhọc hoặc vùng đặc biệt khó khăn nghỉ đúng tuổi Phụ lục II thì thuộc Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội 2024; mức lương hưu tính theo Điều 66 khoản 1, không có đoạn giảm 2% mỗi năm. Người suy giảm khả năng lao động thuộc Điều 65, cần đủ 20 năm đóng, và Điều 66 khoản 3 giảm 2% mỗi năm nghỉ trước tuổi; dưới 6 tháng không giảm, từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng giảm 1%. Nghị định 154 cho nghỉ trước cả mốc Phụ lục I hoặc Phụ lục II, tối đa 5 năm, mà không trừ tỷ lệ, nhưng chỉ khi thuộc diện tinh giản và được cấp có thẩm quyền giải quyết.
Nghị định 154 có thay Nghị định 178 không?
Không. Điều 18 Nghị định 154/2025/NĐ-CP chỉ thay thế Nghị định 29/2023/NĐ-CP. Nghị định 178/2024/NĐ-CP, được sửa bởi Nghị định 67/2025/NĐ-CP, là chính sách khi sắp xếp tổ chức bộ máy. Một số điểm Điều 2 Nghị định 154 loại người đã hưởng chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quy định riêng của Chính phủ. Khoản 7 Điều 3: nếu đủ điều kiện ở nhiều văn bản của Chính phủ thì chỉ được hưởng một chính sách cao nhất.
Chế độ nghỉ hưu trước tuổi năm 2026 còn áp dụng không?
Có, nếu người đó thuộc đối tượng và điều kiện của Nghị định 154. Các chế độ trong nghị định được áp dụng đến hết ngày 31/12/2030. Năm 2026 không đổi tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường: nam 61 tuổi 6 tháng, nữ 57 tuổi, theo Phụ lục I Nghị định 135/2020/NĐ-CP. Nghị định 154 không viết lại các mốc này.
Nam sinh tháng 3/1968 thì mốc Phụ lục I nằm ở đâu?
Nam sinh tháng 3/1968 đủ 62 tuổi vào tháng 3/2030. Hết ngày 31/3/2030 thì đến tuổi nghỉ hưu theo Phụ lục I; lương hưu trong điều kiện bình thường tính từ ngày 1/4/2030. Lùi 60 tháng từ tháng đủ tuổi thì ra tháng 3/2025; lùi 24 tháng thì ra tháng 3/2028. Đây là mốc tham chiếu của khoảng còn 5 năm và còn 2 năm, chưa phải quyết định tinh giản. Nếu hồ sơ được ghi nhận còn đúng 5 năm và có đúng 20 năm công tác theo Điều 5 khoản 4, trợ cấp điểm b khoản 2 là 25 tháng tiền lương hiện hưởng và trợ cấp 20 năm đầu là 5 tháng, cộng 30 tháng tiền lương hiện hưởng.
Căn cứ pháp lý
Căn cứ tính tuổi nghỉ hưu là Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 135/2020/NĐ-CP. Trang này dùng các điều khoản sau.
Nghị định 154/2025/NĐ-CP, Điều 6Nghỉ hưu trước tuổi khi tinh giản biên chế, không trừ tỷ lệ lương hưu. Hiệu lực 16/6/2025, áp dụng đến hết 31/12/2030.
Nghị định 29/2023/NĐ-CPNghị định tinh giản biên chế bị Nghị định 154/2025/NĐ-CP thay thế từ 16/6/2025.